Tham Mưu Trưởng và Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II Tháng 4 năm 2001, tôi tham dự khóa hội thảo về Chiến Tranh Việt Nam do Vietnam Center tổ chức tại Đại Học Texas Tech. Trong dịp này, tôi may mắn gặp Chuẩn Tướng hồi hưu Theodore Mataxis. Ông cho biết ông là Đại Tá Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II vào năm 1964-1965 và quen biết Đại Tá Hiếu lúc đó là Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn. Tôi có yêu cầu ông nếu có tài liệu liên quan đến Đại Tá Hiếu thì cho tôi xin. Ông hứa là khi về, ông sẽ lục lọi trong các thùng hồ sơ ông còn lưu trữ, rồi gửi đến cho tôi. Nhưng rồi sau đó tôi mất liên lạc với ông. May thay, vào tháng 10 năm 2002, khi tra lục The Virtual Vietnam Archive trên mạng lưới, tôi tình cờ khám phá là Tướng Mataxis đã gửi tặng Vietnam Center hết cả những tài liệu ông có về thời kỳ ông tham chiến tại Việt Nam. Trong số tài liệu này, tôi tìm được bốn tấm hình về anh tôi: và ba bản văn hé mở cho thấy công trình của Đại Tá Hiếu trong vai trò Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II : 1. Road Clearing Operation, Hành Quân Khai Lộ; 2. Attack and Counter-Attack on Highway 19, Tấn Công và Phản Công Trên Quốc Lộ 19; và 3. VC Summer Monsoon Offensive (với các đoạn trích sau đây: Chiến Dịch Đông Xuân 1965 Và Chiến Lược Của Quân Đoàn II, Quân Đoàn II Đối Phó Với Các Cuộc Tấn Công VC Tại Phú Bổn, Pleiku Và Kontum, Giải Cứu Trại LLĐB Đức Cơ). Ba bản văn này đều liên hệ đến năm 1965 là năm Việt Cộng muốn đánh dứt điểm trong ý đồ chiếm đoạt vùng Cao Nguyên nhằm cắt đôi Nam Việt Nam từ Pleiku xuống tới Qui Nhơn. Để thi hành ý đồ này, Việt Cộng đổi từ du kích chiến sang quy ước chiến bằng cách xâm nhập quân chính quy Bắc Quân và phát động các cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn vào đầu năm 1965, rồi đến cấp trung đoàn, và tiếp đó đến cấp sư đoàn vào cuối năm 1965. Tiểu đoàn Bắc Quân đầu tiên phát hiện được trong một cuộc hành quân tại phía tây tỉnh Kontum là một tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 101 của Sư Đoàn 325 Bắc Quân. Sau đây là loạt tấn công của Việt Cộng trong năm 1965:
Trong hầu hết các cuộc tấn công của Việt Cộng kể trên, Việt Cộng dùng thế đánh điểm diệt viện, bằng cách tấn công các tiền đồn hẻo lánh hay các tiểu khu yếu ớt, rồi phục kích các chiến đoàn tiếp cứu. Vì khu vực hành quân của Quân Đoàn II quá rộng (bằng diện tích của ba Quân Đoàn I, III và IV cộng lại), khiến quân đoàn phải dùng tất cả các đơn vị của các Sư Đoàn 22, 23 và Đặc Khu Chiến Thuật 24 của quân đoàn vào các công tác an ninh địa phương tĩnh động. Vậy mà còn không đủ, như trong trường hợp hành quân giải cứu trại LLĐB Đức Cơ, quân đoàn phải nhờ tới Lữ Đoàn 173 Dù Hoa Kỳ bảo vệ Pleiku, và trong trường hợp hành quân giải cứu trại LLĐB Pleime, quân đoàn phải nhờ tới một Lữ Đoàn Dù của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ cũng để bảo vệ Pleiku. Lực lượng trừ bị thường trực Quân Đoàn II có trong tay gồm có: Trung Đội Eagle Flight, hai tiểu đoàn TQLC, hai tiểu đoàn BĐQ và một lữ đoàn Dù. Khi cần thiết, Quân Đoàn II xin thêm một lữ đoàn Dù thuộc Lực Lượng Tổng Trừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu. Tùy trường hợp, Quân Đoàn dùng một, hai hay tất cả các đơn vị của lực lượng trừ bị, tùy theo số quân Việt Cộng tung vào trận chiến. Trong trường hợp hành quân giải cứu Quận Thuần Mẫn vào cuối tháng 06, khi Việt Cộng uy hiếp quận này với một trung đoàn, Quân Đoàn II tung vào trận địa hai tiểu đoàn Dù và một tiểu đoàn Bộ Binh thuộc Biệt Khu 24 Chiến Thuật. Đến khi Việt Cộng vây hãm hai đơn vị này và dự định đưa vào thêm một trung đoàn khác, Quân Đoàn II tung vào thêm một chiến đoàn gồm hai tiểu đoàn TQLC, một lữ đoàn Dù thuộc lực lượng trừ bị quân đoàn và một lữ đoàn Dù thuộc lực lượng tổng trừ bị thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Ngoài ra, còn có thêm sự trợ lực của đơn vị của trại LLĐB Buon Brieng. Trong cuộc Hành Quân Khai Lộ vào giữa tháng 07, Quân Đoàn II điều động đồng loạt các đơn vị của Sư Đoàn 22 và Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh, Chiến Đoàn 2 Dù, Lực Lượng Địa Phương Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Chiến Đoàn Alpha TQLC, Trung Đoàn 42, Nhóm 20 Công Binh Chiến Đấu trong một chiến thuật dương đông kích tây khiến cho ba trung đoàn Việt Cộng có mặt trong vùng hành quân bị ghim chặt bất động tại chỗ, và còn hờm sẵn một lực lượng trừ bị gồm một tiểu đoàn Biệt Động Quân, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, một tiểu đoàn Dù và hai chi đoàn Thiết Giáp. Ngoài ra, Hành Quân Khai Lộ còn có hai đặc điểm: (1) nó được chuẩn bị trong bí mật tuyệt đối, chỉ có Đại Tá Hiếu và Tướng Vĩnh Lộc biết đến kế hoạch hành quân này; và (2) nó ngăn chận không cho phép địch quân thiết lập các ổ phục kích, thành thử tiết kiệm được máu và mồ hôi đi diệt các ổ phục kích. Trong cuộc hành quân giải cứu trại LLĐB Đức Cơ vào đầu tháng 08, Quân Đoàn II điều động một Chiến Đoàn Dù, một Chiến Đoàn TQLC, Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh và một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân. Để hóa giải thế đánh điểm diệt viện của Việt Công, Quân Đoàn II dùng thế chuyển quân chớp nhoáng bằng cách phối hợp máy bay vận tải Caribou cho đoạn đường xa và trực thăng cho đoạn đường ngắn đến bất cứ địa điểm giao tranh nào, đồng thời xử dụng tối đa hỏa lực yểm trợ phối hợp của pháo binh và của đủ mọi loại máy bay không lực Mỹ Việt. Trong cuộc hành quân Thần Phong, sơ đồ hành quân cho thấy Đại Tá Hiếu đã thiết kế rất kỹ lưỡng các vị trí đơn vị pháo binh để bao phủ rất chu đáo trọn vùng hành quân dọc theo Quốc Lộ 19 suốt từ Pleiku đến Qui Nhơn. Trong cuộc hành quân tiếp cứu 220 chiến binh bị vây hãm tại căn cứ hỏa lực FOB2, trung tâm hành quân Quân Đoàn II đã nghiên cứu và thực hiện một kế hoạch cực kỳ khó khăn dùng hỏa lực tiếp cận của đủ loại phi cơ. Đại Tá Mataxis viết:
Mỗi khi gặp ổ phục kích địch, Quân Đoàn II đã trù liệu là các chiến xa sẽ thu gọn lại như quả bóng trong thế thủ, và để cho pháo binh và không quân tha hồ nã đạn và bom làm thịt các ổ súng không giựt và súng chống chiến xa, sau đó mới vươn ra và xông lên thanh toán các ổ phục kích. Khi tình thế đòi hỏi một trại quân phải đào tẩu, như trong trường hợp rút lui khỏi tiểu khu Thuần Mẫn, chiến thuật đào tẩu của Quân Đoàn II trù liệu các chiến đấu cơ và các trực thăng võ trang dọn đường rút lui bằng cách bắn phá đêm và ngày các vị trí phục kích của Việt Cộng nằm trên đường rút lui, đồng thời gởi một đơn vị tiến ngược lên hướng rút lui để bảo an cho quân lính đến từ trại quân thuộc Quận Thuần Mẫn. Các tài liệu của Đại Tá Mataxis lưu trữ cho phép theo dõi các cuộc hành quân qua ống kính của cấp quân đoàn khiến ta có thể có cái nhìn tổng quát về một cuộc hành quân, từ khía cạnh chiến lược toàn diện quân đoàn đến khía cạnh chiến thuật gồm có yếu tố điều nghiên và thực hiện cuộc hành quân. Lấy chẳng hạn trường hợp của cuộc hành quân giải cứu trại LLĐB Đức Cơ, khi đọc bài tường thuật của một sĩ quan dù thì chỉ có được cái nhìn hạn hẹp của đơn vị dù tham dự trận chiến này, và khi đọc bài tường thuật của một sĩ quan thủy quân lục chiến thì chỉ có được cái nhìn hạn hẹp của đơn vị thủy quân lục chiến tham dự trận chiến này. Ngược lại bài tường thuật của Đại Tá Mataxis cho thấy vai trò điều động và phối hợp của Quân Đoàn II đối với tất cả các đơn vị tham dự vào cuộc hành quân này. Một nhận xét quan trọng cần được nêu lên là vai trò then chốt của Đại Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II trong các cuộc hành quân trong Quân Đoàn II năm 1965. Đại Tá Hiếu về Pleiku tháng 2 năm 1964. Trong khi đó Tướng Có về nắm Tư Lệnh Quân Đoàn tháng 9 năm 1964 và dời Pleiku tháng 6 năm 1965 thay thế bởi Tướng Vĩnh Lộc. Sự bổ nhiệm của hai vị tư lệnh này nặng tính chất chính trị hơn là quân sự: Tướng Có thuộc phe Khánh-Thiệu-Kỳ, và Tướng Vĩnh Lộc thuộc phe Kỳ (đang lúc Khánh đã bị hất cảng và Thiệu còn yếu thế). Do đó, Đại Tá Hiếu là yếu tố liên tục của thế chiến đấu của Quân Đoàn II. Trên thực tế thì hai Tướng Có và Tướng Vĩnh Lộc cậy nhờ rất nhiều vào tài tham mưu và tài điều hành của Đại Tá Hiếu mà không phải lấy làm ái ngại thanh danh bị lu mờ vì Đại Tá Hiếu vừa rất được việc lại vừa rất kín đáo ẩn mình sau hậu trường sân khấu. Đại Tá Mataxis tổng kết thành quả của Quân Đoàn II sau cuộc tấn công mùa hè năm 1965 của Việt Cộng như sau:
Qua các trận đánh trong năm 1965, Quân Đoàn II đã chứng tỏ là, với sự yểm trợ không lực Hoa Kỳ, các đơn vị QLVNCH có đủ khả năng đánh bại các đơn vị thiện chiến nhất của Việt Cộng. Tiếc là chính phủ Mỹ đã không tiếp tục thi hành đường lối chiến đấu phối hợp Việt Mỹ này, mà lại thay đổi chính sách. Thay vì tăng viện trợ tài chánh để thiết lập thêm quân số cho các đơn vị QLVNCH, Hoa Kỳ ồ ạt đổ quân Mỹ vào Nam Việt Nam và giao cho các đơn vị Mỹ hành quân đơn phương. Sự kiện này xảy ra lần đầu tiên khi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ, sau trận Pleime, bảo Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đứng yên để đơn phương nhảy vào Thung Lũng Ia Drang lùng kiếm tàn quân Việt Cộng... Về vấn đề này, Tướng Schwarzkopf, từng là cố vấn cho chiến đoàn Dù trong cuộc hành quân tiếp cứu trại LLĐB Đức Cơ, phát biểu ý kiến như sau:
Nguyễn Văn Tín
|